Japan International Cooperation Agency
Share
  • 日本語
  • English
  • Français
  • Espanol
  • Home
  • About JICA
  • News & Features
  • Countries & Regions
  • Our Work
  • Publications
  • Investor Relations

Hỏi và Đáp

Phần 1: Thông tin chung về ODA của Nhật Bản và JICA

  1. ODA là gì?
  2. JICA là gì?
  3. Các chương trình hợp tác của JICA là gì?

Phần 2: Các hoạt động tại Việt Nam

  1. Đặc điểm của ODA Nhật Bản tại Việt Nam là gì?
  2. Những lĩnh vực ưu tiên hợp tác của ODA Nhật Bản cho Việt Nam là gì?
  3. Chương trình Phái cử Tình nguyện viên tại Việt Nam được thực hiện như thế nào?
  4. Chương trình Đối tác phát triển của JICA tại Việt Nam được thực hiện như thế nào?

Phần 3: Những hiểu nhầm về ODA của Nhật Bản tại Việt Nam

A. GIA TĂNG NỢ CÔNG , THỰC TẾ VÀ CÁC CON SỐ

  1. Có phải vốn vay ODA là "gánh nặng" làm gia tăng nợ công của Việt Nam?
  2. Có phải chúng ta càng tiếp nhận nhiều ODA bây giờ, thì các thế hệ tương lai sẽ càng được hưởng lợi ít hơn trong tương lai?
  3. Các khoản vay ODA hiện tại liệu có đưa đến gánh nặng nợ cho các thế hệ tương lai, và dẫn đến tình trạng các lĩnh vực quan trọng khác sẽ nhận được ít đầu tư hơn?

B. VỐN VAY ODA, CÁC DỰ ÁN VỐN VAY VÀ CÁC ĐIỀU KHOẢN ÁP DỤNG

  1. Có nhiều nguồn tin nói rằng kể từ tháng 7/2017, Việt Nam có thể không còn được vay theo điều kiện ODA mà phải chuyển sang vay ưu đãi, tiến tới vay thương mại. Xin ông giải thích rõ hơn về vấn đề này?
  2. Theo Đề án Thu hút, Quản lý và sử dụng vốn ODA và vốn vay Ưu đãi giai đoạn 2016-2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 251 ngày 17/2/2016 thì tổng vốn vay giai đoạn 2011-2015 của nhóm 6 nhà tài trợ lớn đạt khoảng 26,3 tỷ USD, trong đó 4,5 tỷ USD là vay kém ưu đãi. Vậy cơ cấu các khoản vay ODA Nhật Bản là như thế nào? Có bao nhiêu phần trăm là vốn vay ODA, bao nhiêu phần trăm là vốn vay ưu đãi?
  3. Có phải tất cả các dự án vốn vay ODA đều áp dụng các điều khoản ràng buộc liên quan đến tư vấn, thiết kế, nhà thầu cũng như việc mua sắm các máy móc, trang thiết bị?
  4. Nhiều ý kiến cho rằng các Doanh nghiệp Việt nam có rất ít cơ hội tham gia thực hiện hợp đồng của các dự án vốn vay ODA, do đó, tiền của các tổ chức tài trợ lại “quay về” với các nước tài trợ, và lợi ích mà các nước tiếp nhận nhận được, trong đó có các doanh nghiệp Việt nam, là rất nhỏ?
  5. Có phải các tổ chức tài trợ thông qua việc cung cấp ODA để xuất khẩu các công nghệ đã lỗi thời sang các nước tiếp nhận, và do đó, có thể nói ODA hiện đang không thực sự mang lại hiệu quả tốt cho Việt Nam?
  6. Thông thường vốn vay ODA có lãi suất thấp, vay dài hạn. Vậy đi kèm với nó có những điều kiện gì ràng buộc chặt chẽ hay không? Liệu có phải các dự án ODA Nhật Bản sẽ bắt buộc do các nhà thầu Nhật Bản thực hiện hay không?

C. ODA ĐẮT HAY RẺ?

  1. Có phải nếu sử dụng nguồn vốn trong nước để thực hiện dự án mở rộng cảng Tiên Sa giai đoạn II sẽ giúp tiết kiệm được rất nhiều chi phí (giảm được 1/3 chi phí) thay vì việc sử dụng vốn vay ODA của Nhật Bản?
  2. Các dự án ODA, đặc biệt là các dự án vốn vay luôn được nhận định là đắt với chi phí đặc biệt cao so với việc sử dụng các nguồn vốn trong nước, và điều này có thể thấy rõ khi so sánh chi phí xây dựng cầu Mỹ Thuận và cầu Cần Thơ?
  3. Có ý kiến chuyên gia kinh tế cho rằng chi phí đầu tư cho một dự án ODA, đặc biệt trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng rất cao, nên so với lãi suất thấp và kỳ hạn dài chưa hẳn đã có lợi. Ông có ý kiến như thế nào về nhận định này?

D. CÁC DỰ ÁN ODA VÀ VIỆC SỬ DỤNG HIỆU QUẢ DỰ ÁN ODA

  1. Nhiều vụ tham nhũng đã xảy ra tại các dự án ODA, thêm vào đó, nhiều dự án có tiến độ chậm so với kế hoạch đề ra, và dường như từ phía các nhà tài trợ không có hệ thống hay biện pháp nào để giám sát việc sử dụng vốn ODA, cải thiện tình trạng chậm trễ của các dự án vốn vay ODA, và hạn chế tình trạng tham nhũng?

Phần 1: Thông tin chung về ODA của Nhật Bản và JICA

1. ODA là gì?

Hiện có nhiều tổ chức và các nhóm, bao gồm Chính phủ các nước cũng như các tổ chức quốc tế, tổ chức phi Chính phủ (NGOs) và các doanh nghiệp tư nhân, tiến hành hỗ trợ tài chính cho các nước đang phát triển vì mục tiêu phát triển kinh tế xã hội. ODA, như định nghĩa của Ủy ban Hỗ trợ Phát triển của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), phải đáp ứng ba yêu cầu sau:

  • Được Chính phủ các nước hoặc các cơ quan Chính phủ thực hiện
  • Mục đích chính là thúc đẩy phát triển kinh tế và phúc lợi tại các nước đang phát triển
  • Có các điều khoản ưu đãi với cấu phần trợ cấp ít nhất là 25%

Ghi chú: Cấu phần trợ cấp đánh giá “mức độ ưu đãi” hay”độ mềm” của các điều khoản tài chính trong một khoản vay. Tỷ lệ lãi suất càng thấp và kỳ hạn trả nợ càng dài thì cấu phần trợ cấp càng cao với ý nghĩa mang lại lợi ích nhiều hơn cho nước đi vay. Cấu phần trợ cấp của một khoản viện trợ không hoàn lại là 100%.

ODA phần lớn được phân loại dưới hai hình thức bao gồm:

  • Viện trợ song phương: hỗ trợ được thực hiện trực tiếp với các nước đang phát triển
  • Viện trợ đa phương: hỗ trợ được tiến hành thông qua các tổ chức quốc tế.

JICA cung cấp viện trợ song phương dưới các hình thức: Hợp tác Kỹ thuật, Vốn vay ODA và Viện trợ không hoàn lại.

Photo* Chú ý: Bộ Ngoại giao vẫn sẽ tiếp tục thực hiện một số chương trình/dự án Viện trợ không hoàn lại liên quan đến chính sách ngoại giao

2. JICA là gì?

Kể từ khi tham gia Kế hoạch Colombo(1) vào năm 1954, Nhật Bản đã cung cấp hỗ trợ tài chính và hỗ trợ kỹ thuật cho các nước đang phát triển thông qua ODA nhằm mục tiêu đóng góp cho hòa bình và sự phát triển của cộng đồng quốc tế. Từ đó, an ninh và thịnh vượng cho chính Nhật Bản cũng được đảm bảo(2).

JICA chịu trách nhiệm quản lý tất cả hình thức ODA bao gồm: Hợp tác Kỹ thuật, Vốn vay ODA và Viện trợ không hoàn lại dưới hình thức hợp nhất, trừ các đóng góp cho các tổ chức quốc tế. JICA, cơ quan viện trợ song phương lớn nhất thế giới, hoạt động tại trên 152 quốc gia và khu vực với khoảng 100 văn phòng tại nước ngoài.

(1) Kế hoạch Colombo là tên một tổ chức quốc tế được thành lập năm 1950 để hỗ trợ sự phát triển kinh tế xã hội của các nước tại khu vực Nam Á, Đông Nam Á và Thái Bình Dương. Trụ sở chính tại Colombo, Sri Lanka.

(2) Trích từ Hiến chương ODA, được sửa đổi vào tháng Tám năm 2003.

3. Các chương trình hợp tác của JICA là gì?

(1) Hợp tác Kỹ thuật

Hợp tác Kỹ thuật đưa công nghệ, bí quyết kỹ thuật và kinh nghiệm của Nhật Bản nhằm phát triển nguồn nhân lực giữ vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội ở các nước đang phát triển.

Hơn nữa, thông qua sự phối hợp với các nước đối tác trong việc cùng tham gia hoạch định một kế hoạch phát triển phù hợp với tình hình thực tế của nước sở tại, chương trình Hợp tác Kỹ thuật giúp phát triển và cải tiến công nghệ cho phù hợp với bối cảnh cụ thể của từng nước, đồng thời góp phần nâng cao trình độ công nghệ chung của nước đó cũng như hỗ trợ thiết lập các khung thể chế và tổ chức mới. Những điều trên giúp các nước đối tác nâng cao năng lực giải quyết vấn đề và đạt được sự tăng trưởng kinh tế.

Hợp tác Kỹ thuật bao gồm việc tổ chức đào tạo cho những người được cử tham gia các khóa học, phái cử chuyên gia, cung cấp trang thiết bị và tiến hành các nghiên cứu nhằm mục đích hỗ trợ việc hoạch định chính sách và lập kế hoạch cho các dự án đầu tư công (Hỗ trợ Kỹ thuật cho việc lập kế hoạch phát triển).

(2) Hợp tác Vốn vay

Hợp tác Vốn vay nhằm hỗ trợ những nỗ lực phát triển của các nước đang phát triển bằng cách cung cấp các khoản tài chính cần thiết với kỳ hạn vay dài và lãi suất thấp đáng kể so với lãi suất thương mại. Các hình thức chính của Hợp tác Vốn vay là Vốn vay ODA và Tài chính Đầu tư cho Khu vực tư nhân.

Cụ thể, Vốn vay ODA nhằm cung cấp tài chính với khoản kinh phí lớn hơn so với Hợp tác Kỹ thuật hay Viện trợ không hoàn lại. Vì vậy, hình thức này được áp dụng hiệu quả cho việc xây dựng trang bị các công trình hạ tầng cơ bản với quy mô lớn tại các nước đang phát triển. Khác với Hợp tác Kỹ thuật hay Viện trợ không hoàn lại, Hợp tác vốn vay đòi hòi các nước nhận viện trợ phải hoàn trả toàn bộ khoản vay. Điều này giúp khuyến khích các nước hưởng lợi quan tâm sâu sát đến tầm quan trọng và mức độ ưu tiên của các dự án cũng như nỗ lực phân bổ và sử dụng các khoản vay một cách hiệu quả nhất có thể.

Các Điều khoản và Điều kiện của Vốn vay ODA Nhật Bản (có hiệu lực từ ngày 1 tháng 10 năm 2014) được phân biệt dựa trên các điều kiện ràng buộc như sau:

  • Vốn vay không ràng buộc thông thường: Lãi suất 1.4% với kỳ hạn trả nợ là 30 năm bao gồm 10 năm ân hạn.
  • Vốn vay ODA với các điều khoản đặc biệt (STEP- Điều khoản đặc biệt cho Đối tác kinh tế): Lãi suất là 0.1% với kỳ hạn trả nợ là 40 năm bao gồm 10 năm ân hạn. Điều kiện ràng buộc: sự tham gia của các nhà thầu Nhật Bản.

Vốn vay ODA theo hình thức STEP : Điều khoản đặc biệt cho Đối tác kinh tế (STEP) áp dụng cho các dự án cần sử dụng công nghệ và bí quyết kỹ thuật của Nhật Bản. Vốn vay ODA theo hình thức STEP được cung cấp dựa trên yêu cầu của nước nhận viện trợ về việc sử dụng và chuyển giao các công nghệ vượt trội của Nhật Bản.

(3) Viện trợ không hoàn lại

Viện trợ không hoàn lại là hình thức hỗ trợ nhằm cung cấp các khoản tài chính cần thiết để thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội. Viện trợ không hoàn lại là hình thức hợp tác tài chính với các nước đang phát triển mà không đi kèm nghĩa vụ trả nợ.

Cụ thể, tại các nước đang phát triển với mức thu nhập thấp, Viện trợ không hoàn lại được sử dụng chủ yếu cho việc xây dựng bệnh viện, xây cầu và các cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội khác cũng như thúc đẩy giáo dục, các chương trình HIV/AIDS, các hoạt động chăm sóc sức khỏe trẻ em và môi trường nhằm trực tiếp hỗ trợ cải thiện mức sống.

Viện trợ không hoàn lại được phân loại theo các hạng mục sau đây dựa vào nội dung của viện trợ:

  • Viện trợ không hoàn lại cho các Dự án chung;
  • Viện trợ không hoàn lại phi dự án;
  • Viện trợ không hoàn lại cho các dự án an ninh con người cấp cơ sở;
  • Viện trợ không hoàn lại cho các dự án phi Chính phủ Nhật Bản;
  • Viện trợ không hoàn lại cho phát triển nguồn nhân lực (Học bổng);
  • Viện trợ không hoàn lại cho hợp tác chống khủng bố và tăng cường an ninh;
  • Viện trợ không hoàn lại phòng chống thiên tai và tái thiết đất nước;
  • Viện trợ không hoàn lại nâng cao năng lực cộng đồng;
  • Viện trợ không hoàn lại cho nghề cá;
  • Viện trợ không hoàn lại trong lĩnh vực văn hóa;
  • Viện trợ không hoàn lại phục vụ cứu trợ khẩn cấp;
  • Viện trợ lương thực;
  • Viện trợ không hoàn lại cho các nông hộ bị thiệt thòi;
  • Viện trợ không hoàn lại cho Môi trường và Biến đổi khí hậu;
  • Viện trợ không hoàn lại cho các chiến lược giảm nghèo;
  • Viện trợ không hoàn lại ngăn ngừa xung đột và thúc đẩy hòa bình.

(4) Các chương trình hợp tác khác

a) Cứu trợ thiên tai khẩn cấp
Trong trường hợp xảy ra thiên tai quy mô lớn ở nước ngoài, JICA sẽ phái cử các nhóm Cứu trợ thiên tai Nhật Bản theo đề nghị từ Chính phủ các nước bị ảnh hưởng hoặc các tổ chức quốc tế dựa trên quyết định của Chính phủ Nhật Bản. Các nhóm này sẽ tìm kiếm những người bị mất tích, tham gia vào các hoạt động cứu hộ, tiến hành cấp cứu và điều trị cho các nạn nhân bị thương hay bị bệnh cũng như hướng dẫn cách thức hồi phục tốt nhất. JICA cũng cung cấp hàng cứu trợ khẩn cấp như màn, lều và thuốc...

b) Hợp tác Nghiên cứu
Viện Nghiên cứu JICA (JICA-RI) tiến hành các nghiên cứu nhằm mục đích giải quyết những vấn đề phát triển mà các nước đang phát triển đang đối mặt và đóng góp cho các chiến lược hỗ trợ của JICA để giải quyết các vấn đề này.

  • Những nghiên cứu theo định hướng chính sách dựa trên cơ sở khoa học cũng như những đóng góp đáng kể cho lĩnh vực phát triển quốc tế,
  • Những phân tích về vấn đề của các nước đang phát triển và những đóng góp cho các chiến lược hỗ trợ của JICA,
  • Tăng cường sự chia sẻ thông tin tại Nhật Bản, tại nước ngoài và tăng cường hình ảnh của Nhật Bản.

c) Hợp tác công tư
Những nỗ lực của JICA trong việc thúc đẩy hợp tác công tư (PPP) chủ yếu tập trung vào cải thiện môi trường kinh doanh tại các nước đang phát triển và hỗ trợ cải thiện cơ sở hạ tầng cũng như tăng cường các dịch vụ công thông qua PPP mà theo đó, Chính phủ và khu vực tư nhân cùng tham gia và chia sẻ trách nhiệm. Khi nhận thức về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR) ngày càng được nâng cao thì số doanh nghiệp Nhật Bản tham gia thực hiện các chương trình đóng góp xã hội và hình thành các doanh nghiệp kinh doanh BOP ngày càng tăng tại các nước đang phát triển. Điều này đòi hỏi sự tham gia của các đối tác mới cho các dự án của JICA trong sự kết nối với hoạt động của các doanh nghiệp tư nhân.

d) Hợp tác theo đề xuất của các doanh nghiệp Nhật Bản
Chương trình được thiết kế để hỗ trợ giải quyết các vấn đề phát triển mà các nước đang phát triển phải đối mặt bằng cách tận dụng các sản phẩm và công nghệ của doanh nghiệp Nhật Bản. Chương trình nhằm đem lại lợi ích cho nước tiếp nhận thông qua sự hỗ trợ trực tiếp từ các doanh nghiệp Nhật Bản cũng như trợ giúp các doanh nghiệp Nhật Bản trong việc mở rộng hoạt động kinh doanh tại thị trường các nước đang phát triển.

e) Hợp tác thông qua sự tham gia của người dân

Đáp lại yêu cầu từ các nước đang phát triển, JICA thúc đẩy các chương trình mà trong đó, các tổ chức và cá nhân tại Nhật Bản tham gia các hoạt động hợp tác quốc tế hỗ trợ người dân địa phương nước sở tại.

+ JICA phái cử tình nguyện viên như các Tình nguyện viên Hợp tác Hải ngoại Nhật Bản (JOCV) và Tình nguyện viên cao cấp (SV), quản lý các dự án từ thiện thông qua Quỹ JICA và thúc đẩy giáo dục phát triển (giáo dục cho sự hiểu biết quốc tế) nhằm hỗ trợ nâng cao nhận thức về những vấn đề mà hiện nay các nước đang phát triển gặp phải. JICA hợp tác bằng nhiều cách thức khác nhau với các tổ chức phi Chính phủ, chính quyền địa phương, các trường đại học và các tổ chức khác có tham gia vào các hoạt động hợp tác quốc tế.

+ Chương trình Đối tác Phát triển của JICA (JPP) là chương trình hợp tác kỹ thuật cấp cơ sở do JICA thực hiện nhằm đóng góp cho sự phát triển kinh tế xã hội ở cấp địa phương của các nước đang phát triển thông qua sự phối hợp với các "Đối tác tại Nhật Bản" như các tổ chức phi Chính phủ, Chính quyền địa phương, trường đại học và tổ chức pháp nhân công tại Nhật Bản. Chương trình nhằm phát huy những kiến thức và kinh nghiệm đã tích lũy của các tổ chức này trong các hoạt động hợp tác nhằm mục đích đem lại các lợi ích trực tiếp cho những người dân địa phương tại các nước đang phát triển.

Phần 2: Các hoạt động tại Việt Nam

1. Đặc điểm của ODA Nhật Bản tại Việt Nam là gì?

Kể từ khi nối lại Hỗ trợ Phát triển Chính thức (ODA) của Nhật Bản cho Việt Nam vào năm 1992, Chính phủ Nhật Bản đã và đang tích cực hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, cải thiện chính sách và thể chế thông qua Hợp tác kỹ thuật cũng như xây dựng và trang bị cơ sở hạ tầng giao thông, cấp điện v.v. thông qua Hợp tác tài chính (bao gồm các khoản vay ODA và Viện trợ không hoàn lại) với mục tiêu đóng góp cho sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam. Kể từ khi bắt đầu cung cấp ODA, đặc điểm nổi bật của ODA Nhật Bản chính là sự kết hợp chặt chẽ giữa Hợp tác kỹ thuật và Hợp tác tài chính để đảm bảo sự hợp tác toàn diện và tính bền vững của các dự án.

2. Những lĩnh vực ưu tiên hợp tác của ODA Nhật Bản cho Việt Nam là gì?

Các lĩnh vực ưu tiên hợp tác của ODA Nhật Bản cho Việt Nam được xác định như dưới đây nhằm mục đích thúc đẩy sự tăng trưởng bền vững của Việt Nam:

  1. Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tăng cường năng lực cạnh tranh quốc tế (kiểm soát lạm phát, tái cấu trúc doanh nghiệp Nhà nước, tăng cường năng lực cạnh tranh ngành công nghiệp và đào tạo nguồn nhân lực, nâng cấp cơ sở hạ tầng v.v)
  2. Tăng cường Quản trị Nhà nước (cải cách pháp luật và hệ thống tư pháp, tăng cường chức năng và năng lực hành chính, thúc đẩy sự tham gia của người dân v.v)
  3. Hỗ trợ các đối tượng dễ bị tổn thương (giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách phát triển, cải thiện các dịch vụ xã hội cơ bản; các đối sách với vấn đề môi trường và biến đổi khí hậu v.v)

*Mục tiêu quốc gia của Việt Nam: Cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020

Photo

*Sơ đồ các dự án của JICA đang thực hiện tại Việt Nam (đã có trên trang web)

3. Chương trình Phái cử Tình nguyện viên tại Việt Nam được thực hiện như thế nào?

JICA bắt đầu phái cử các Tình nguyện viên Hợp tác Hải ngoại Nhật Bản (JOCV) đến Việt Nam từ năm 1995 trong các lĩnh vực y tế, nông nghiệp, giảng dạy tiếng Nhật và hỗ trợ trẻ em khuyết tật. Ngoài ra, kể từ năm 2001, JICA đã phái cử các Tình nguyện viên cao cấp tới hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ.

Các tình nguyện viên Nhật Bản tại Việt Nam đang phục vụ trong các lĩnh vực khác nhau như: Quản lý năng suất, quản lý chất lượng, quản trị kinh doanh, marketing, giảng dạy tiếng Nhật, y tế, thể thao, phát triển nông thôn, giáo dục và dịch vụ thông tin, du lịch, trồng rừng v.v. Họ đã đóng góp vào sự phát triển xã hội và nguồn nhân lực của đất nước nhận hỗ trợ.

Bản đồ về địa bàn hoạt động của các tình nguyện viên JICA tại Việt Nam (đã có trên trang web)

4. Chương trình Đối tác phát triển của JICA tại Việt Nam được thực hiện như thế nào?

JICA bắt đầu triển khai Chương trình này từ năm 2002 tại Việt Nam trong các lĩnh vực: cải thiện hệ thống cấp thoát nước, nâng cao năng lực ứng phó với thiên tai, phát triển nông nghiệp nông thôn, chăm sóc y tế, thành lập hệ thống quản lý môi trường, đào tạo phục vụ các ngành công nghiệp hỗ trợ v.v.

Bản đồ các dự án Chương trình Đối tác phát triển của JICA đang thực hiện tại Việt Nam (đã có trên trang web)

Phần 3: Những hiểu nhầm về ODA của Nhật Bản tại Việt Nam

A. GIA TĂNG NỢ CÔNG , THỰC TẾ VÀ CÁC CON SỐ

1. Có phải vốn vay ODA là “gánh nặng” làm gia tăng nợ công của Việt Nam?

Vay nước ngoài (bao gồm cả ODA) đôi khi bị chỉ trích là nhân tố chính dẫn đến sự gia tăng nợ công nhanh chóng, tuy nhiên, ý kiến cho rằng ODA là yếu tố chính làm tăng nợ công là không chính xác.

Nhìn vào tình hình nợ công của Việt Nam giai đoạn từ năm 2010 đến 2014, theo số liệu của Bộ Tài chính, nợ trong nước đã tăng hơn 150%, còn nợ nước ngoài tăng có 76%. Nợ trong nước tăng nhanh do Việt Nam tăng phát hành trái phiếu Chính phủ với lãi suất thấp nhất là khoảng 5% và kỳ hạn thường ngắn hơn 5 năm. Trái phiếu đã làm tăng nghĩa vụ trả nợ, khiến tình hình ngân sách trở nên căng thẳng hơn.

Trong khi đó, dư nợ vay ODA Nhật Bản tăng từ 9.139 triệu USD năm 2010 lên 11.849 triệu USD năm 2014, tuy nhiên tỷ trọng vốn vay ODA Nhật Bản trong tổng nợ công giảm từ 16% năm 2010 xuống 11% năm 2014. Mặc dù Việt Nam đã trở thành quốc gia có thu nhập trung bình, nhưng Nhật Bản vẫn đang áp dụng lãi suất vay thấp cho các dự án vay vốn ODA cụ thể như sau: phát triển cơ sở hạ tầng là 0,1-1,4%, lĩnh vực môi trường, xây dựng bệnh viện và trường đại học chỉ là 0,3%. Thời hạn vay dài nhất lên tới 40 năm, trong đó có 10 năm ân hạn (*), cũng là một điều kiện rất ưu đãi.

(*) Ân hạn nghĩa là chỉ phải trả lãi, không phải trả nợ gốc

2. Có phải chúng ta càng tiếp nhận nhiều ODA bây giờ, thì các thế hệ tương lai sẽ càng được hưởng lợi ít hơn trong tương lai?

Có hai cách suy nghĩ về khoản nợ trong tương lai:

Cách nghĩ thứ nhất, vốn vay ODA là tiền đi vay nên cần phải trả trong tương lai, và thế hệ tương lai sẽ chịu các gánh nặng của các khoản nợ này và lãi suất kèm theo. Trong bối cảnh tỉ lệ nợ công so với GDP cao như hiện nay, có ý kiến cho rằng Việt Nam không nên vay vốn ODA.

Tuy nhiên, theo cách nghĩ thứ hai, các khoản vay rõ ràng cũng là "khoản đầu tư cho tương lai" nên mức độ vay cần phải được cân nhắc dựa trên những lợi ích về kinh tế và xã hội cũng như khả năng chi trả cho các khoản nợ trong tương lai phát sinh từ những khoản vay đó.

Khi xem xét về ODA, chúng ta không nên chỉ nhìn nhận ODA từ góc độ tiêu cực thông qua việc chỉ tập trung vào khía cạnh "vay mượn từ tương lai".

Ta có thể thấy nếu sử dụng Trái phiếu chính phủ để cải thiện trang bị cơ sở hạ tầng hoặc xây dựng bệnh viện, các cơ sở giáo dục,… thì lãi suất thấp nhất là 5% năm. Trong khi đó, nếu sử dụng vốn vay ODA Nhật Bản thì lãi suất thấp từ 0,1~1,4%/năm đối với các dự án cơ sở hạ tầng và chỉ 0,3%/năm với các khoản vay để xây bệnh viện hoặc trường đại học.

Do vậy, nếu xây dựng cơ sở hạ tầng bằng vốn vay ODA thay vì Trái phiếu chính phủ thì khoản nợ mà thế hệ tương lai phải trả sẽ giảm được nhiều hơn 50%. Hơn nữa, xem xét bối cảnh chỉ số giá tiêu dùng cao ở Việt Nam, lãi suất của vốn vay ODA Nhật Bản có thể xem là "âm", và điều này làm cho vốn vay ODA trở thành một nguồn vốn vô cùng đặc biệt và ngoại lệ.

3. Các khoản vay ODA hiện tại liệu có đưa đến gánh nặng nợ cho các thế hệ tương lai, và dẫn đến tình trạng các lĩnh vực quan trọng khác sẽ nhận được ít đầu tư hơn?

Như đã đề cập ở trên, mặc dù Việt Nam đã trở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình vào năm 2010, nhưng Nhật Bản vẫn đang áp dụng mức lãi suất thấp đối với các khoản vay ODA cho xây dựng cơ sở hạ tầng là 0.1-1.4%, và đặc biệt giảm xuống chỉ còn 0.3% cho lĩnh vực môi trường, xây dựng bệnh viện, trường đại học. Thời gian trả nợ là 40 năm, trong đó có 10 năm ân hạn (*), cũng là một điều kiện rất ưu đãi. Trong khi đó, trái phiếu Chính phủ có lãi suất thấp nhất là 5%, với thời gian trả nợ trung bình thường ngắn hơn 5 năm. Như vậy, có thể thấy, việc sử dụng vốn vay ODA Nhật Bản, so với trái phiếu Chính phủ, cho đầu tư công là cách tốt nhất để giảm nợ công trong tương lai. Việc trả nợ ODA do đó cũng được coi là góp phần giảm khối lượng đầu tư cần phải có vào các lĩnh vực quan trọng như y tế, giáo dục và bảo trợ xã hội trong tương lai. Nếu nguồn đầu tư là trái phiếu Chính phủ thì khối lượng đầu tư vào các lĩnh vực này trong tương lai sẽ không được duy trì ở mức như khi sử dụng ODA.

Đặc biệt, JICA chú trọng vào đầu tư vào lĩnh vực Y tế và Giáo dục tại Việt Nam.

(*) Ân hạn nghĩa là chỉ phải trả lãi, không phải trả nợ gốc

B. VỐN VAY ODA, CÁC DỰ ÁN VỐN VAY VÀ CÁC ĐIỀU KHOẢN ÁP DỤNG

1. Có nhiều nguồn tin nói rằng kể từ tháng 7/2017, Việt Nam có thể không còn được vay theo điều kiện ODA mà phải chuyển sang vay ưu đãi, tiến tới vay thương mại. Xin ông giải thích rõ hơn về vấn đề này?

Các điều khoản và điều kiện vốn vay ODA của Nhật Bản được thiết lập dựa trên mức thu nhập của nước tiếp nhận. Hiện tại Việt Nam đã được xếp vào nước có mức thu nhập trung bình thấp với thu nhập quốc dân trên đầu người trong khoảng từ 1.046USD đến 1.985USD năm 2014. Mức lãi suất của vốn vay ODA Nhật Bản dành cho Việt Nam dao động từ 0,1-1,4%/năm và thời gian trả nợ là 25-40 năm, thời gian ân hạn là 7-10 năm.

Với tình hình tăng trưởng kinh tế hiện nay của Việt Nam, JICA sẽ tiếp tục cung cấp vốn vay ưu đãi cho Việt Nam tới khoảng năm 2030.

VÌ thế, từ tháng 7/2017 Việt Nam có thể không còn được vay ODA ưu đãi từ các tổ chức quốc tế khác, nhưng mức ưu đãi của vốn vay ODA Nhật Bản sẽ chỉ giảm một chút nếu Việt Nam được nâng bậc vào nhóm các quốc gia có thu nhập cao hơn hiện nay (tức là mức thu nhập trung bình). Cũng giống như một số quốc gia khác như Malaysia và Thái Lan, Việt Nam có thể tiếp tục vay vốn ODA của Nhật Bản với các điều kiên ưu đãi.

Chính phủ Việt Nam đang ưu tiên phát triển cơ sở hạ tầng ví dụ như đường xá, sân bay, các nhà máy điện để có thể tăng cường phát triển kinh tế-xã hội, cải thiện đời sống của người dân và nâng cao khả năng cạnh tranh của đất nước. Để hỗ trợ cho mục tiêu chính sách này, JICA sẽ tiếp tục hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng thông qua viện trợ phát triển chính thức ODA về cả phần cứng (tài chính) và phần mềm (hợp tác kỹ thuật).

2. Theo Đề án Thu hút, Quản lý và sử dụng vốn ODA và vốn vay Ưu đãi giai đoạn 2016-2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 251 ngày 17/2/2016 thì tổng vốn vay giai đoạn 2011-2015 của nhóm 6 nhà tài trợ lớn đạt khoảng 26,3 tỷ USD, trong đó 4,5 tỷ USD là vay kém ưu đãi. Vậy cơ cấu các khoản vay ODA Nhật Bản là như thế nào? Có bao nhiêu phần trăm là vốn vay ODA, bao nhiêu phần trăm là vốn vay ưu đãi?

Về vốn vay ODA và vốn vay ưu đãi, trước tiên tôi muốn đề cập tới sự khác biệt về thuật ngữ được sử dụng trong các văn bản pháp luật của Việt Nam và của các đối tác phát triển. Vốn vay ODA, theo định nghĩa của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), bản chất là vốn vay ưu đãi với tỷ lệ không hoàn lại không dưới 25%. Ngoài ra còn có các khoản vay cũng do các tổ chức này cung cấp cho mục đích phát triển nhưng thành tố ưu đãi chưa đạt chuẩn của vốn vay ODA thì được gọi là "vốn vay kém ưu đãi –" less- concessional loan". Tuy nhiên, trong các văn bản pháp luật của chính phủ Việt Nam thì hai loại vốn vay trên lại được gọi là vốn vay ODA và "vốn vay ưu đãi".

Riêng về vốn vay ODA của Nhật Bản ký với chính phủ Việt Nam kể từ khi nối lại viện trợ chính thức năm 1992, tất cả đều là vốn vay ODA.

3. Có phải tất cả các dự án vốn vay ODA đều áp dụng các điều khoản ràng buộc liên quan đến tư vấn, thiết kế, nhà thầu cũng như việc mua sắm các máy móc, trang thiết bị?

Không, điều đó không đúng.

Viện trợ ODA của Nhật Bản có 2 hình thức hợp tác: Hợp tác kỹ thuật và Hợp tác hỗ trợ kinh phí. Hỗ trợ kinh phí bao gồm: Viện trợ không hoàn lại ưu tiên cải thiện những nhu cầu cơ bản của con người như dịch vụ giáo dục, y tế,… và hợp tác vốn vay ODA tập trung hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng.

Có hai hình thức vay vốn ODA: Vay không ràng buộc (untied loan) trong đó nước đi vay có thể mua vật tư, thiết bị, tư vấn kỹ thuật từ bất cứ nước nào xét thấy có lợi nhất (qua hình thức đấu thầu công khai). Hình thức thứ hai là vay có ràng buộc (tied loan) nhưng điều kiện rất ưu đãi với cách gọi khác là STEP (Special Term for Economic Partnership: điều khoản đặc biệt dành cho các đối tác kinh tế). Loại STEP ràng buộc nên điều kiện lãi suất ưu đãi hơn loại vay không ràng buộc.

Nhật Bản tôn trọng quyết định của nước nhận viện trợ về việc có áp dụng các khoản vay kèm các điều khoản ràng buộc hay không.

Dự án vốn vay ODA đôi khi bị chỉ trích vì yêu cầu phải sử dụng nhà thầu và công nghệ do nhà tài trợ chỉ định. Tuy nhiên, các dự án vôn vay ODA Nhật Bản đòi hỏi sử dụng công ty và vật liệu của Nhật Bản chỉ dành cho các dự án có yêu cầu công nghệ đặc biệt tiên tiến từ Nhật Bản. Từ năm 2010 đến năm 2014, những dự án sử dụng vốn vay ràng buộc chỉ chiếm dưới 40% tổng số vốn cam kết, trong khi 60% còn lại là những dự án sử dụng vốn vay không ràng buộc quốc tịch của nhà thầu cũng như không phải sử dụng vật tư, thiết bị của nước tài trợ.

4. Nhiều ý kiến cho rằng các Doanh nghiệp Việt nam có rất ít cơ hội tham gia thực hiện hợp đồng của các dự án vốn vay ODA, do đó, tiền của các tổ chức tài trợ lại “quay về” với các nước tài trợ, và lợi ích mà các nước tiếp nhận nhận được, trong đó có các doanh nghiệp Việt nam, là rất nhỏ?

Các Doanh nghiệp (DN) Việt Nam hoàn toàn có cơ hội tham gia thực hiện các dự án ODA của Nhật dành cho Việt Nam. Với các khoản vay theo điều kiện thông thường, DN Việt Nam có thể tham gia với tư cách là nhà thầu chính hoặc nhà thầu phụ. Với dự án STEP, DN Việt Nam có thể tham gia với tư cách là thành viên của liên doanh Việt Nam – Nhật Bản hoặc là nhà thầu phụ. Theo số liệu của JICA, giá trị các hợp đồng được thực hiện bởi các DN Việt Nam trong khuôn khổ các dự án vốn vay ODA Nhật Bản đang tăng theo từng năm, từ 31,2 tỷ Yên năm 2010 đến 73,5 tỷ Yên trong năm 2014.

Và quan trọng nhất: việc chuyển giao các công nghệ Nhật Bản thông qua liên doanh, góp phần nâng cao năng lực kỹ thuật và năng lực quản lý xây dựng của DN Việt Nam.

5. Có phải các tổ chức tài trợ thông qua việc cung cấp ODA để xuất khẩu các công nghệ đã lỗi thời sang các nước tiếp nhận, và do đó, có thể nói ODA hiện đang không thực sự mang lại hiệu quả tốt cho Việt Nam?

Không, điều đó không đúng.

Tại Hội thảo Quốc tế "Đánh giá 20 năm Huy động và Sử dụng vốn ODA tại Việt Nam" được tổ chức tại Đà Nẵng ngày 7/8/2015, Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh đã cám ơn các tổ chức tài trợ cho các hoạt động hỗ trợ ODA tại Việt Nam.

"Việt Nam đã chuyển từ một nước nghèo sang nước có mức thu nhập trung bình với tốc độ tăng trưởng kinh tế hằng năm là 7%. Chúng ta đã giảm được 50% số hộ nghèo. Chúng ta đã hòa nhập sâu hơn vào nền kinh tế và thương mại Thế giới, một phần là nhờ có ODA".

"Các khoản vốn vay ODA đã đóng vai trò rất quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam với việc đóng góp 10% trong tổng số vốn đầu tư phát triển, và tập trung vào các lĩnh vực then chốt như giao thông, năng lượng, giáo dục và môi trường".

Liên quan đến vốn vay ODA của Nhật Bản, Chính phủ Việt Nam và JICA đã và đang ưu tiên sử dụng vốn vay ODA Nhật Bản đầu tư vào những cơ sở hạ tầng quan trọng cho sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam. Cách làm này được đánh giá cao vì đã góp phần cải thiện vượt bậc môi trường đầu tư của thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội.

Có thể đưa ra một vài ví dụ mới đây như, từ tháng 1/2015, Hà Nội đã khánh thành Nhà ga hành khách T2 Sân bay Quốc tế Nội Bài, thông xe cầu Nhật Tân và đường dẫn Sân bay Quốc tế Nội Bài, giúp cải thiện đáng kể tuyến huyết mạch lưu thông hàng hóa từ cửa ngõ quốc tế về trung tâm thành phố. Tương tự, tại thành phố Hồ Chí Minh, thông xe đường cao tốc thành phố Hồ Chí Minh - Dầu Giây đã giúp cải thiện đáng kể lưu thông từ Đồng Nai và Bà Rịa Vũng Tàu.

Hơn nữa, vốn vay ODA Nhật Bản cũng đã và đang góp phần mang lại lợi ích cho cả doanh ngiệp Việt Nam. Ví dụ, giá trị hợp đồng mà các doanh nghiệp Việt Nam sở hữu trong giá trị hợp đồng vốn vay ODA của nhà thầu chính tăng 2,4 lần, từ 31.192 tỷ yên trong năm tài khóa 2010 lên 73.491 tỷ yên trong năm tài khóa 2014. Đồng thời, việc chuyển giao công nghệ những kỹ thuật cao từ các công ty Nhật Bản sang các công ty đối tác Việt Nam thông qua các dự án vốn vay của Nhật Bản cũng diễn ra rất mạnh mẽ.

6. Thông thường vốn vay ODA có lãi suất thấp, vay dài hạn. Vậy đi kèm với nó có những điều kiện gì ràng buộc chặt chẽ hay không? Liệu có phải các dự án ODA Nhật Bản sẽ bắt buộc do các nhà thầu Nhật Bản thực hiện hay không?

Các điều khoản của vốn vay ODA là ưu đãi với lãi suất cho vay thấp và thời hạn trả nợ dài, tuy nhiên, không phải lúc nào các điều kiện ràng buộc cũng được áp dụng kèm theo, và cũng do đó, nhà thầu không bắt buộc mang quốc tịch Nhật Bản trong mọi dự án vay vốn ODA Nhật Bản.

Trước hết, chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng, Nhật Bản tôn trọng quyết định của nước nhận viện trợ về việc có áp dụng các khoản vay kèm các điều khoản ràng buộc hay không. Vốn vay ODA Nhật Bản ràng buộc được gọi là "Điều khoản đặc biệt dành cho Đối tác kinh tế" (Special Terms for Economic Partnership - STEP). Hình thức này áp dụng cho các dự án cần tận dụng một cách đáng kể công nghệ và bí quyết kỹ thuật của Nhật Bản dựa trên yêu cầu của nước nhận viện trợ về việc sử dụng và chuyển giao các công nghệ vượt trội của Nhật Bản. Điều kiện chính của khoản vay STEP là (1) nhà thầu chính sẽ là các công ty Nhật Bản hoặc là liên doanh giữa công ty Nhật và Công ty Việt Nam do công ty Nhật đứng đầu liên doanh, (2) không dưới 30% hàng hóa sẽ có xuất xứ từ Nhật Bản

Như đã đề cập ở trên, các khoản vay STEP chỉ được dành cho các dự án có yêu cầu công nghệ tiên tiến từ Nhật Bản. Trong tổng số vốn vay đã cam kết từ năm 2010 đến 2014, tỷ trọng của các khoản vay STEP chỉ vào khoảng 38% và 62% số vốn vay còn lại được cung cấp mà không có bất kỳ hạn chế gì về quốc tịch nhà thầu hay nguồn gốc xuất xứ hàng hóa.

Cam kết vốn ODA Nhật Bản hàng năm (2010-2014)

Photo(Nguồn: VP JICA Việt Nam)

Trong mọi trường hợp, các doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn có thể tham gia thực hiện dự án vốn vay ODA Nhật Bản. Với những dự án vốn vay không có điều kiện ràng buộc, các doanh nghiệp Việt Nam có thể tham gia đấu thầu và thực hiện hợp đồng với tư cách là nhà thầu chính và/hoặc nhà thầu phụ. Với các dự án áp dụng hình thức STEP, như đã giải thích ở trên, các doanh nghiệp của Việt Nam có thể tham gia thực hiện hợp đồng với tư cách là thành viên của liên doanh Việt Nam – Nhật Bản và/hoặc nhà thầu phụ. Theo số liệu của JICA, giá trị các hợp đồng được thực hiện bởi các doanh nghiệp Việt Nam trong khuôn khổ các dự án vốn vay ODA Nhật Bản đang tăng đều đặn theo từng năm, từ 31,2 tỷ Yên năm 2010 đến 73,5 tỷ Yên trong năm 2014. Dự án Xây dựng đường cao tốc Bắc Nam (đoạn Đà Nẵng – Quảng Ngãi ) (CIENCO 1), Dự án Xây dựng đường cao tốc Bắc Nam (Đoạn Tp Hồ Chí Minh – Dầu Giây) (CIENCO 4), Dự án Nhà ga T2 Cảng Hàng không Quốc tế Nội Bài (Taisei và VINACONEX) và Dự án Xây dựng Cảng Lạch Huyện (xây dựng đường và cầu) (Sumitomo Mitsui và CIENCO4, Trường Sơn) là những ví dụ về các hợp đồng lớn được thực hiện bởi các doanh nghiệp Việt Nam. Chúng tôi tin tưởng rằng, vốn vay ODA Nhật Bản có tính mở nhất đối với các doanh nghiệp Việt Nam so với các khoản vay của các đối tác phát triển khác. Xin đuợc chia sẻ rằng, JICA công khai thông tin về nhà thầu của các hợp đồng có giá trị trên 100 triệu Yên Nhật trong báo cáo thường niên của mình.

Giá trị Hợp đồng trong các Dự án sử dụng vốn vay ODA Nhật Bản (2010-2014)

Photo(Nguồn: Ước tính bởi VP JICA Việt Nam)

Ghi chú

1: Dữ liệu trên được Văn phòng JICA ước tính. Văn phòng JICA Việt Nam không công khai thông tin của từng hợp đồng.

2: Dữ liệu trên không bao gồm giải ngân các khoản vay theo chương trình

3: Dữ liệu trên không bao gồm các hợp đồng áp dụng thủ tục giải ngân từ Tài khoản Đặc biệt, trong đó tất cả các nhà thầu là công ty Việt Nam. Nếu tính cả cả các hợp đồng trên, thì giá trị hợp đồng do các công ty Việt Nam thực hiện sẽ tăng lên đáng kể.

*Danh sách các nhà thầu Việt Nam tham gia vào các dự án vốn vay ODA Nhật Bản (nhóm Truyền thông sẽ cung cấp tài liệu nếu các anh chị có nhu cầu)

C. ODA ĐẮT HAY RẺ?

1. Có phải nếu sử dụng nguồn vốn trong nước để thực hiện dự án mở rộng cảng Tiên Sa giai đoạn II sẽ giúp tiết kiệm được rất nhiều chi phí (giảm được 1/3 chi phí) thay vì việc sử dụng vốn vay ODA của Nhật Bản?

Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) Việt Nam đã ký kết Biên bản Ghi nhớ (MOU) với JICA vào tháng 12/2013 liên quan đến hỗ trợ của JICA cho thực hiện Nghiên cứu khả thi và thẩm định vốn cho Dự án mở rộng cảng Tiên Sa (giai đoạn II) tại Đà Nẵng. Bộ GTVT đã đề nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư đưa dự án này vào danh sách các dự án ưu tiên tiếp nhận vốn ODA của Nhật Bản cho năm tài khóa 2014.

Tuy nhiên, vào tháng 3/2015, cảng Đà Nẵng đã từ chối tiếp nhận vốn ODA của Nhật Bản cho dự án trên, và quyết định huy động các nguồn vốn trong nước để thực hiện dự án.

Trong bối cảnh này, đã có nhiều bài báo đăng tải về quyết định của cảng Đà Nẵng, trong đó một số bài báo ca ngợi "quyết định dũng cảm" vì đã giúp tiết kiệm được 1/3 chí phí xây dựng khi sử dụng nguồn vốn trong nước thay vì sử dụng nguồn vốn ODA. Liên quan đến nhận định này, JICA mong muốn chia sẻ ý kiến như sau:

Xem xét các nghiên cứu khả thi trước đó, bao gồm một nghiên cứu khả thi do chính Bộ Giao thông Vận tải tiến hành và một nghiên cứu khả thi khác do JICA tiến hành, có thể thấy rằng, cả hai nghiên cứu này đều cho kết quả là chi phí dự án do các bên đưa ra là tương đương nhau cho dù được triển khai bởi bên nào đi chăng nữa; do vậy, rất khó thuyết phục khi nói chi phí đó lại có thể giảm đến 1/3 mà không làm ảnh hưởng đến chất lượng và độ bền vững của công trình.

Dưới đây là Bảng chi phí của Dự án được dự toán bởi Bộ Giao thông Vận tải vào năm 2013 và JICA vào năm 2014:

  Dự toán của Bộ GTVT
2013
(tỉ đồng)
Dự toán của JICA
2014
(tỉ đồng)
Chi phí xây dựng 1.347 1.323
Chi phí quản lý dự án 11 17
Chi phí tư vấn 25 182
Các chi phí khác 79 72
Dự phòng 403 386
Thuế 182 212
Tổng chi phí dự án 2.047 2.193

Trong bất kỳ trường hợp nào, phương án lý tưởng nhất sẽ là khối tư nhân, bao gồm cả Cảng Đà Nẵng, có thể triển khai được dự án nhờ nguồn vốn huy động từ thị trường mà không làm ảnh hưởng đến chất lượng công trình.

2. Các dự án ODA, đặc biệt là các dự án vốn vay luôn được nhận định là đắt với chi phí đặc biệt cao so với việc sử dụng các nguồn vốn trong nước, và điều này có thể thấy rõ khi so sánh chi phí xây dựng cầu Mỹ Thuận và cầu Cần Thơ?

Cầu Mỹ Thuận là cầu cáp treo bắc qua sông Mê Công, nối huyện Cái Bè của tỉnh Tiền Giang với thành phố Vĩnh Long của tỉnh Vĩnh Long. Cầu được xây dựng với sự hỗ trợ của Chính phủ Úc, với chi phí khoảng 66 triệu đô la Mỹ và được hoàn thành vào năm 2000.

Cần Cần Thơ là cầu cáp treo tại thành phố Cần Thơ, bắc ngang qua sông Hậu và nối thành phố Cần Thơ với tỉnh Vĩnh Long của đồng bằng sông Mê Công. JICA đã hỗ trợ vốn vay ODA để xây dựng cầu Cần Thơ. Chi phí xây dựng của cầu Cần Thơ là khoảng 240 triệu đô la Mỹ, và được hoàn thành vào năm 2010.

Khi chúng ta so sánh chi phí xây dựng hai cây cầu mà thời gian xây dựng rất xa nhau, cần thiết phải tính đến yếu tố trượt giá cũng như diện tích xây dựng. Hãy cùng xem xét việc này như sau:

Cầu Mỹ Thuận được hoàn thành năm 2000, trong khi cầu Cần Thơ được hoàn thành năm 2010, khi mà giá nguyên vật liệu ở Việt Nam tăng gần gấp đôi mức giá của năm 2000. Bên cạnh đó, diện tích thi công cầu Cần Thơ gần gấp đôi diện tích cầu Mỹ Thuận, vì vậy, có thể nói không có chênh lệch lớn về chi phí thi công của 2 cây cầu này nếu tính đến yếu tố trượt giá và quy mô xây dựng.

Photo

Tóm lại, dựa trên những thông tin và số liệu trên đây, có tính đến yếu tố trượt giá và quy mô xây dựng, chi phí thi công của 2 cây cầu không quá khác biệt, hay nói cách khác là tương đương nhau.

3. Có ý kiến chuyên gia kinh tế cho rằng chi phí đầu tư cho một dự án ODA, đặc biệt trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng rất cao, nên so với lãi suất thấp và kỳ hạn dài chưa hẳn đã có lợi. Ông có ý kiến như thế nào về nhận định này?

Như đã đề cập ở trên, dù Việt Nam đã được xếp vào nhóm các quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp vào năm 2010, Nhật Bản vẫn dành nguồn ODA với những điều kiện rất ưu đãi cho các dự án hạ tầng của Việt Nam như lãi suất vay chỉ bằng 0.1 - 1.4% với kỳ hạn dài nhất lên đến 40 năm, bao gồm 10 năm ân hạn.

Cho đến nay chính phủ Nhật Bản luôn cung cấp ODA cho Việt Nam có cân nhắc kỹ về sự cần thiết và đóng góp có hiệu quả của dự án vào sự phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam.

Việc sử dụng vốn vay ODA Nhật Bản này đã được đánh giá cao cho những đóng góp trong cải thiện môi trường đầu tư tại thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội. Một số ví dụ có thể kể đến, như: kể từ tháng 1 năm 2015, Hà Nội đã khai trương và đưa vào sử dụng nhà ga T2 - Cảng Hàng không Quốc tế Nội Bài cũng như đưa cầu Nhật Tân và đường dẫn nối cây cầu này với Sân bay Nội Bài vào sử dụng. Điều này giúp cải thiện đáng kể tuyến đường giao thông huyết mạch từ cửa khẩu quốc tế đến trung tâm thành phố. Tương tự như vậy, việc đưa vào sử dụng tuyến đường cao tốc Long Thành - Dầu Giây đã giúp cải thiện tình hình giao thông từ Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu về thành phố Hồ Chí Minh. Dự án xây dựng Đại lộ Đông Tây đã được chính thức đưa vào hoạt động từ năm 2011 cũng đã giúp giải quyết tình trạng gia tăng phương tiện cơ giới và tình trạng ùn tắc giao thông thường xuyên. Ngoài ra, Dự án "Vốn vay của Ngành Giao thông Vận tải để cải thiện mạng lưới Quốc lộ" bắt đầu từ năm 2004 đến nay cũng đã xây dựng được tổng cộng 144 cây cầu thông qua 2 giai đoạn và góp phần cải thiện mạng lưới Quốc lộ, nâng cao năng lực vận tải và cải thiện an toàn giao thông.

Dưới đây chỉ là một trong những ví dụ cho chúng ta thấy sự thật là chi phí đầu tư của dự án sử dụng vốn vay ODA của Nhật Bản thấp hơn rất nhiều so với chi phí đầu tư của dự án sử dụng trái phiếu chính phủ.

So sánh chi phí tài chính theo nguồn vốn vay

Photo

Mặt khác, gần đây, trên một số phương tiện truyền thông, ODA bị chỉ trích là một nguyên nhân làm gia tăng nợ công. Hiểu nhầm này có lẽ bắt nguồn từ những chậm trễ nghiêm trọng của một số dự án lớn đang thu hút sự quan tâm của dư luận.

Từ quan điểm của chúng tôi, vấn đề chính cần xem xét là việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực công, trong đó có nguồn vốn ODA. Lý do lớn nhất và rõ ràng nhất cho việc đội vốn của dự án chính là sự chậm trễ trong mọi giai đoạn triển khai dự án, từ khâu hình thành, phát triển dự án đến khâu hoàn thiện dự án, và nguyên nhân của sự chậm trễ này cũng rất đa dạng. Có thể thấy rằng nhiều cơ quan liên quan đến thực hiện dự án chưa ý thức được vấn đề chi phí cơ hội khi thực hiện các dự án đầu tư công. Một khi các cơ quan hữu quan chú trọng đúng mức đến tuân thủ các thủ tục hành chính cũng như quản trị thời gian thì hiệu quả đầu tư công chắc chắn sẽ được cải thiện.

D. CÁC DỰ ÁN ODA VÀ VIỆC SỬ DỤNG HIỆU QUẢ DỰ ÁN ODA

1. Nhiều vụ tham nhũng đã xảy ra tại các dự án ODA, thêm vào đó, nhiều dự án có tiến độ chậm so với kế hoạch đề ra, và dường như từ phía các nhà tài trợ không có hệ thống hay biện pháp nào để giám sát việc sử dụng vốn ODA, cải thiện tình trạng chậm trễ của các dự án vốn vay ODA, và hạn chế tình trạng tham nhũng?

JICA đang chuẩn bị thành lập hệ thống giám sát dự án trên Web để theo dõi tiến độ đấu thầu của các gói thầu và tình hình thực hiện tất cả các dự án vốn vay ODA Nhật Bản. Bước tiếp theo, JICA sẽ phối hợp với Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch và Đầu tư trong việc nâng cấp chương trình này để áp dụng cho tất cả các dự án đầu tư công tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả và tính minh bạch.

Để sử dụng tốt nguồn vốn vay ODA Nhật Bản, thì việc lựa chọn dự án phù hợp để sử dụng vốn vay ODA Nhật Bản là quan trọng, tuy nhiên, việc phòng tránh để không xảy chậm trễ trong việc triển khai dự án sau khi được lựa chọn là cách làm hiệu quả nhất.

Để phòng tránh triển khai dự án chậm trễ thì vấn đề then chốt là tính minh bạch và đánh giá của Bên thứ 3.

Hiện JICA đang trong giai đoan chuẩn bị công khai các bước thực hiện dự án của tất cả các dự án vốn vay, đồng thời, JICA cũng đang xem xét việc sử dụng đánh giá của Bên thứ 3 đối với tất cả các dự án không ký được hợp đồng tư vấn trong vòng 2 năm kể từ thời điểm ký kết Hiệp định vốn vay và/hoặc trong vòng 4 năm kể từ khi ký kết Hiệp định vốn vay và trong trường hợp không có hợp đồng với nhà thầu xây dựng.

Nhờ vậy, JICA hy vọng sẽ công khai được thông tin và làm sáng tỏ các nguyên nhân gây chậm tiến độ dự án cũng như các đơn vị làm chậm tiến độ dự án, và JICA cũng kỳ vọng cơ chế này sẽ góp phần giảm thiểu việc chậm tiến độ dự án.

PAGE TOP

Copyright © Japan International Cooperation Agency